Tháng 3 năm 2011, mình đến Thị trấn Tà Lùng, Phục Hòa, Cao Bằng. Đoàn ĐH Nông Lâm có TS Nghiêm Xuân Hội (Hiệu trưởng),Ths Đinh Thanh (Tp TCKT), TS Nguyễn Vượng (Tp khảo thí), Anh Ngô Văn Phê (Phó Phòng HCTC), Anh Nguyễn Hòa (Chủ tịch Công đoàn),Ths. Nguyển Đức (Trưởng khoa SPKT) và Phùng Gia Hưng, Tất nhiên ngưới cầm lái vĩ đại là Hà Bá Tiếp. Trong chuyến đi này mình và Anh Ngô Văn Phê có một kỷ niệm vui, rất vui (sẽ viết ở đoạn cuối của bài này).
Từ TP Cao Bằng đến Tà Lùng khoảng gần năm chục cây số, đi theo QL 3, và Cửa khẩu Quốc Tế Tà Lùng là điểm cuối của QL 3.
Cao Bằng là đất địa linh nhân kiệt và không phải ngẫu nhiên mà Bác Hồ chọn Cao Bằng làm căn cứ địa khi người về Tổ quốc năm 1941.
Nhà Mạc tồn tại 84 năm với 3 đời vua ở đất Cao Bằng. Nhà Mạc đã đưa lên Cao Bằng nguyên cả kỷ cương nề nếp thời còn trị vì ở kinh đô Thăng Long. Sử cũ chép lại, nhà Mạc đã mở trường quốc học, mở khoa thi, thu phục nhân tâm, mở đường xá, lập chợ, sửa sang thành quách,xây các thành mới nơi hiểm yếu, chiêu binh luyện mã.
Gần một thế kỷ, Nhà Mạc đã để lại những dấu ấn không hề nhỏ ở đất Cao Bằng cả về kinh tế chính trị, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và ẩm thực.
Giới thiệu sơ qua về Tà Lùng. Tà Lùng là một thị trấn thuộc huyện Phục Hòa cũ, nay là Quảng Hòa tỉnh Cao Bằng. Cái tên nghe là lạ, chính cống âm tiếng Nùng, Nghĩa của Tà Lùng phiên ra Việt ngữ là thung lũng của dòng sông.Ấy là mình suy ra thế, vì “Tà” là Sông, “Lùng” là thung lũng. Thực tế Tà Lùng là thung lũng lưu vực sông Bằng Giang.
Sau 8 năm cố thủ ở Tà Lùng, Phục Hòa. Mạc Kính Vũ, vị vua cuối cùng của nhà Mạc bị nhà Lê tiêu diệt (Năm 1667). Vì thế xưa kia Tà Lùng còn có tên là Quy Thuận có nghĩa là vùng đất nhà Mạc quy thuận nhà Lê. Trên đất Tà Lùng có thành nhà Mạc, có đền vua Lê, những di tích gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Hàng năm Tà Lùng có lễ hội Háng Sléng tổ chức vào ngày 18 tháng 3 âm lịch cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, nhà nhà ấm no hạnh phúc..
Tà Lùng là cửa khẩu quốc tế chính ở Cao Bằng, bên kia là cửa khẩu Thủy Khẩu, Quảng Tây, Trung Quốc.
Tại bản Phia Khoang dưới chân núi Phia Khoang, cách cửa khẩu Tà Lùng gần 1 km, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã xây dựng Chùa Trúc Lâm Tà Lùng.
Giữa những năm 90 của thế kỷ trước, Trường mình có mở lớp cán bộ nông vụ, hướng dẫn kỹ thuật trồng, bảo quản cây mía, tạo vùng nguyên liệu cho nhà máy đường.
Đến thăm Nhà máy đường Phục Hòa.
Sau khi dẫn đi tham quan dây truyền nhà máy (tất nhiên là của Tàu), Ban Giám đốc nhiệt tình giữ lại để giao lưu, có nghĩa là ra quán uống rượu. Người vùng cao vốn mến khách, dĩ nhiên không thể chối từ. Hai anh Trưởng phòng kỹ thuật và trưởng phòng kinh doanh (tên Hòa) có con là sinh viên của trường cùng tháp tùng Ban Giám đốc tiếp khách.
Đặc biệt ấn tượng là em Phó Giám đốc người Nùng tên là Nông Thị Nậu. Đã trắng trẻo, đã xinh xắn, đã mũm mĩm lại uống rượu thì thôi rồi. Nghe đâu có lần em đã uống hết một xải tay.. bát rượu đầy. Có nghĩa là rượu rót ra bát để trên bàn, em dang tay, em xòe tay, em ướm tay em đo, từ ngón giữa tay phải đến ngón giữa tay trái, bao nhiêu bát em lần lượt uống hết.. Mà em cao trên mét sáu nhé, các mày râu tròn mắt khiếp sợ và cung kính bái phục.
Anh Đinh Thanh tếu táo: - Em “Lông” thị “ Lậu” ơi, Em “Lậu ơi”, anh người Lam định “ lên” “lói” ngọng Thế là em Lậu cười và em phạt anh Thanh ba chén đầy có ngọn.
Một mình Em Lậu đủ sức quật ngã một giàn hảo thủ Nông Lâm vốn cũng là cao thủ, cũng anh hùng hảo hán trong “tửu trận”.
Một trận rượu say, say bí tỷ, say bò lê bò càng, may mà chưa bị “cho chó ăn chè”. Nào đã hết, sau cuộc rượu ở quán là pha 2, nghĩa là đi hát Karaoke, nghĩa là tiếp tục lại bia lại rượu.. Ngẫm lại, về khoản rượu, mình phục mình quá cơ.. Nhưng cũng phải nói nghỉ hưu mới thấy tai hại, cái hậu họa của những cuộc rượu thời còn công tác. Có hối thì cũng đã muộn, quá muộn..
Đêm ấy Ngủ lại Tà Lùng
Mình cùng phòng với anh Ngô Văn Phê.
Phác họa mấy nét về anh Phê.
Anh người chính gốc Hưng Yên. Họ Ngô dòng dõi Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ đất Hà Đông. Hiền lành, trầm tính, kín đáo, ít nói, thông minh và tốt bụng nói ngắn gọn về anh Phê là như vậy. Anh Phê là một trong số các anh ở Nông Lâm mà mình đánh giá rất cao về chỉ sô IQ. Anh Phê được mênh danh cao thủ số 1 trong uống rượu và cao thủ tốp 3 làng cờ tướng ở khu vực.
Anh Phê vốn là bộ đội chuyển ngành đi học. Nói thêm anh đã trải qua 7 vùng chiến thuật trong chiến tranh chống Mỹ, gần chục năm làm chuyên gia nông nghiệp ở Senegan. Anh được chính phủ Senegan tặng Huân chương hữu nghị vì đã hướng dẫn và chuyển giao thành công công nghệ làm.. cối giã gạo như của Việt Nam đã có từ thế kỷ thứ 3 sau công nguyên.
Trong vùng vẫn lan truyền câu này: Bích Sơn có anh Tỉnh chưa uống rượu đã say, Nông Lâm có anh Phê uống rượu say mà vẫn tỉnh. Hơn ba mươi năm cùng công tác, chưa bao giờ mình thấy anh Phê say rượu. Uống rất thong thả, rất nhấm nháp, rất nho nhã, ai mời cũng uống và anh đã mời ai thì khó mà từ chối. Anh xứng đáng là người đặc trách việc tiếp khách của trường.
Anh chị Phê Toan có 2 cháu gái vừa xinh vừa ngoan vừa giỏi, hai thằng rể cũng giỏi cũng ngoan. Rể cả, tên Hòa hiện nay kế nghiệp bố vợ, đảm nhiệm Phó phòng Tổ chức hành chính. Cu này hóm đáo để. Có lần nó lịch kịch tha đến môt lô một lốc… lồng chim chào mào tặng bố vợ. Nó hàm ý là nhà bố vợ thiếu chim .. nó tặng chim để vui cửa vui nhà.
Trong một cuộc rượu ở nhà bố vợ, hai thằng con rể đồng thanh ý kiến với thân sinh ra vợ chúng nó như thế này: - Về khoản uống rượu chúng con phục bố sát đất, nhưng cái khoản đẻ con thì..Nói bỏ lửng, ý chúng nó là chê anh Phê đẻ toàn con gái. Mà cũng hay, anh Phê nhõn 2 đứa đái ngồi. Có cái lạ là con gái lớn 2 thằng cu, con gái út cũng 3 thằng cu. Có nghĩa là Anh Phê có 5 đứa cháu ngoại, đái đứng nghiêm chỉnh, chim cò rất hoành tráng, như ông ngoại.
Gớm cứ tinh tướng, rồi xem mai này hai ông có sướng bằng bố vợ các ông không? Có phúc mới đẻ được hai con gái nhé. Con gái nó ngoan nó giỏi khỏi lo xì ke ma túy, khỏi lo đấm đá rượu chè, lại chả phải lo nhà lo đất, có mà sướng cho đến lúc chêt.
Quay lại chuyện ở Tà Lùng.
Về phòng khách sạn, anh Phê kêu đau lưng, buồn tay mỏi gối. Mỏi là phải, gần 400 trăm cây số chứ ít đâu, đường miền núi đèo cao dốc đứng ngoằn ngoèo. Vượt qua những đèo cao có tiếng ở phía Bắc, nào là Đèo Gió, Mã Phục, Khau Chỉa..
Rượu say nên máu liều nổi lên, trời cũng bé bằng cái vung. – Để em gọi vài em lên mát xa cho bác nhé.
Xuống lễ tân, bà chủ khách sạn béo tròn béo trục, mắt là dăm liếc sắc lẹm: Có ngay, có ngay, đảm bảo chuẩn hoa rừng, rau sạch...
Cửa phòng bật mở, hai bông hoa rừng ập vào. Ối trời ơi, hai cái mặt phấn son lòe loẹt, váy áo người Nùng màu chàm. Eo bánh mì, tay to bằng chân mà chân to như cây chuối rừng, bàn chân xòe như cái quạt. Mà hình như bàn chân bàn tay còn dính ít đất rừng. Ngữ này nó tẩm quất chắc không gãy vài cái dẻ sườn thì cũng nghẹo cổ.
Đúng là hoa rừng rồi, có điều một hoa tươi, một hoa héo. Có nghĩa là một nàng chừng 16 tuổi, nàng kia dễ đến gần bốn chục, mặt có nét hao hao giống nhau, chắc không phải mẹ con thì cũng là bà cháu. Mùi nước hoa rẻ tiền lẫn mùi chàm nó nồng , nó gây gây khó tả.
Mình ra lệnh: - Kính mời hai bà cháu vào tắm rửa cho sạch sẽ để hành nghề..(không tắm rửa sạch sẽ bố ai mà chịu nổi).
Đến tiết mục chọn hàng. Mình có ý kiến:
- Bác nhiều tuổi hơn em, nhường bà bốn chục có nhiều kinh nghiệm nó đấm bóp cho bác. Còn cái đứa còn thò lò mũi xanh kia em đành dùng tạm vậy.
- Ấy, ai lại thế. Theo triết học phương Đông, triết học Tàu, Đàn ông là dương, đàn bà là âm, nhiều tuổi là dương, ít tuổi là âm. Tớ nhiều tuổi hơn chú là dương, chú ít tuổi hơn tớ là âm. Âm dương phải cân bằng, phải hỗ căn, tương sinh tương khắc, do vậy con bé ít tuổi để tớ, còn nhường chú cô nàng bốn chục.
Khiếp quá lại còn dẫn triết học vào cái khoản mát xa nữa chứ. Anh Phê vốn dễ tính mà sao cái khoản nãy kỹ tính thế . Tất nhiên mình không đồng ý.
Sau một hồi tranh cãi, không thỏa thuận được, hai anh em quyết định giải tán. Thôi không mát xa mát gần gì nữa, chấp nhận mất toi trăm bạc cho hai bà cháu nhà nó.
Để hòa giải, hai anh em làm vài chai bia và ngủ ngon cho đến sáng.
P/s: Mọi chi tiết đều có thật, riêng cái đoạn mát xa không thành là hư cấu. Có Anh Phê làm chứng.
Thêm một chi tiết: Hàng nhãn ven đường của trường Nông Lâm có nguồn gốc Hưng Yên chính cống do anh Ngô Văn Phê và Anh Nguyễn Văn Nguyệt đưa lên và chỉ đạo trồng từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước.